Hiển thị các bài đăng có nhãn Sách và Cuộc sống. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sách và Cuộc sống. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 30 tháng 5, 2016

Lời giới thiệu cuốn “Walden – hay một mình sống trong rừng” của Henry David Thoreau



Hiếu Tân







Ngày nay chỉ có những giáo sư triết học, mà không có các triết gia. Là một triết gia không phải chỉ là có những tư tưởng siêu việt uyên áo, thậm chí cũng không phải là lập ra một trường phái, mà là yêu sự thông thái đến mức sống theo những tiếng gọi của nó, một đời sống đơn giản, độc lập, cao thượng, và tin tưởng. Đó là việc giải quyết một số vấn đề của cuộc sống, không phải về lý thuyết, mà về thực tiễn.

Không gì mô tả Henry David Thoreau chính xác hơn những lời trên trong chính cuốn sách nổi tiếng nhất của ông: Walden, hay một mình sống trong rừng, xuất bản lần đầu năm 1854. Trong kho tàng văn học thế giới, đôi khi người ta phân vân không biết nên xếp vàoWalden thể loại nào: triết học, tiểu thuyết, hồi ký. Các nhà phê bình coi Walden như tác phẩm kinh điển của văn học Mỹ, khám phá sự giản đơn, hài hoà và vẻ đẹp của thiên nhiên như những mẫu mực cho một xã hội và văn hóa xứng đáng.



Henry David Thoreau sinh năm 1817 và mất năm 1862 – 44 năm chứa đựng một cuộc đời phong phú, mạnh mẽ và độc đáo. Ông sinh ra trong một gia đình bình thường, tốt nghiệp Đại học Harvard năm 1837. Ông nghiên cứu khoa hùng biện, cổ điển học Hy-La, triết học, toán học và khoa học tự nhiên. Trong cuộc đời khá ngắn ngủi của mình, ngoài những hoạt động khác, ông là nhà văn, nhà thơ, nhà triết học, nhà tự nhiên học, nhà trắc đạc, nhà sử học. Ông để lại hơn 20 tập sách, báo, tiểu luận, thơ. Suốt đời mình, Thoreau chống chế độ nô lệ, công kích đạo luật về Nô lệ bỏ trốn, bảo vệ thiên nhiên, lên tiếng mạnh mẽ bảo vệ quyền tự do cà nhân . Ông viết: “Sẽ không bao giờ có một nhà nước thật sự tự do và khai minh cho đến khi nhà nước nhận thức cá nhân như một quyền lực cao hơn và độc lập, tất cả mọi quyền lực và quyền uy của nhà nước đều từ đó mà ra, và đối xử với cá nhân một cách tương ứng.” Nhiều đóng góp của ông còn có tác dụng đến tận ngày nay: ông viết lịch sử tự nhiên và triết học tự nhiên, ông đi trước trong nhiều phương pháp và phát hiện của sinh thái học và lịch sử môi trường, hai nguồn gốc của chủ nghĩa môi trường hiện đại.

Thoreau là một trong những triết gia tiên nghiệm (transcendentalism) tiêu biểu, triết gia của thiên nhiên và mối quan hệ của nó với đời sống con người. Chủ nghĩa tiên nghiệm cho rằng trạng thái tinh thần lý tưởng vượt lên trên vật chất và kinh nghiệm, nó tin rằng con người đạt được thấu hiểu chân lí thông qua trực giác cá nhân hơn là những giáo thuyết tôn giáo. Thiên nhiên là biểu tượng bên ngoài của nội tâm, là “sự tương ứng căn bản của vật hữu hình với tư tưởng con người” (Emerson, 1836.)

Niềm tin cốt lõi của chủ nghĩa tiên nghiệm là bản tính thiện của con người và thiên nhiên. Chủ nghĩa tiên nghiệm tin rằng xã hội và các thiết chế của nó, đặc biệt là những tôn giáo có tổ chức và các đảng phái chính trị, cuối cùng sẽ làm hỏng sự trong sáng của cá nhân, và tin rằng con người tốt nhất khi sống tự lực, và độc lập. Trong Walden, chúng ta sẽ thấy Thoreau đã sống triết lý này như thế nảo.

Walden là một hồi tưởng đầy chiêm nghiệm suy tư về quãng đời “hai năm hai tháng hai ngày” Thoreau sống một mình trong một mảnh đất rừng bên cạnh đầm Walden, “Giọt nước của Trời”, “đáng yêu hơn kim cương” trong một ngôi nhà tự xây lấy, và bằng lao động của chính đôi tay mình. Ở Walden, ông đã sống nhiệt thành say mê đầy tỉnh thức “Tôi đi vào rừng bởi vì tôi muốn sống thong dong, chỉ đối diện với những sự kiện tinh tuý nhất của cuộc sống, và xem thử tôi có thể học được những gì nó phải dạy tôi hay không, và không để đến khi tôi gần chết mới khám phá ra rằng tôi chưa hề sống. (Walden (W)– Tôi sống ở đâu và sống để làm gì?). Ông chủ trương sống đơn giản vì “Phần lớn những xa xỉ và cái được gọi là tiện nghi không chỉ không tuyệt đối cần thiết, mà còn rõ ràng cản trở việc nâng cao phẩm giá con người.” Ông mang vào rừng giấc mơ về một cuộc sống vô ưu đầy vui thú.

Walden nhấn mạnh tầm quan trọng của lối sống giản đơn, tự chủ, trầm tư, gần gũi thiên nhiên, vượt lên trên “sinh tồn tuyệt vọng” này, vốn là số mệnh của đa số người. Trong chương “Trại Baker” Thoreau kể một buổi chiều lang thang trong rừng, ông gặp mưa giông và phải vào trú nhờ căn nhà tối tăm nhếch nhác của John Field, một tá điền Ai Len không xu dính túi nhưng cần cù lao động, với vợ và con anh ta. Thoreau thuyết phục Field hãy sống đơn giản nhưng độc lập bằng cách vào rừng để thoát khỏi cả chủ đất lẫn chủ nợ, nhưng anh chàng người Ai Len này từ chối vì không sao dứt bỏ được những khao khát xa hoa và tiếng gọi của “giấc mơ Mỹ.”

Bỏ đi những thứ dư thừa, ảo tưởng để tìm ra những nhu cầu thật sự thiết yếu của cuộc sống; ông nhiệt liệt tán dương văn học cổ điển mà ông thích đọc trong nguyên bản cổ ngữ Hi Lạp và Latin, ông phàn nàn về cái xu hướng phổ biến [dường như ở mọi thời] tìm những thứ “dễ đọc” thay vì những tư tưởng sâu sắc nhưng mệt óc; ông mơ mở một trường đại học cho người lớn, tại đó Concord có thể mời các nhà thông thái trên thế giới đến để giảng dạy và làm “cao quý tâm hồn” người dân bản xứ (W- “Đọc”)

Thoreau suy ngẫm về cảm giác cô đơn: “cô đơn giữa đám đông nếu trái tim ta không mở”. Ông không cảm thây cô đơn vì ông thấm nhuần lợi ích của thiên nhiên trong sự giao cảm sâu xa với nó; “phương thuốc duy nhất” mà ông cần là “một ngụm khí trời ban sớm” (W– Cô đơn) Tiếng chuông nhà thờ, tiếng xe ngựa leng keng, tiếng bò rống, tiếng sơn ca, cú mèo, ếch nhái kêu, gà gáy cũng đem đến cho ông nhiều vui thú. Theo ông, việc mở rộng năng lực cảm thụ có cái lợi là giúp ta bớt nhàm chán. (W- “Những âm thanh”). Ở trong rừng, ông có nhiều khách đến thăm hơn khi ở thanh phố, tất nhiên là những khách chọn lọc, nhiểu khi nhà ông chứa được đến “hai lăm, ba chục linh hồn cùng với cả thể xác của họ” (W- Các vị khách của tôi)

Vể mủa đông, Thoreau tiêu khiển bằng quan sát thế giới hoang dã. Và khi ông kể về thú vui của mình thì ta thấy hết tài năng của một nhà tự nhiên học. Ông kể về việc ông đo độ sâu của cái đầm mà nhiều người quả quyết là “không đáy” và liên hệ với chuyện thăm dò chiều sâu đạo đức con người, về những con cá sống trong đẩm, về mầu sắc của băng (W- Đầm trong mùa đông) cũng như về sinh hoạt của các loài muông thú sống trong rừng: chim đớp ruồi, chim cổ đỏ, gà gô, chim dẽ gà, bồ câu Bắc Mỹ, chuột, rái cá, gấu trúc, rùa bùn, cáo, sóc, mèo rừng... Ông tả tỉ mỉ hành tung kì lạ của con chim lặn gavia, cuộc “chiến đấu” một mất một còn của mấy con kiến: “Tôi không bao giờ biết bên nào chiến thắng, cũng không biết nguyên nhân chiến tranh là gì, nhưng suốt ngày hôm ấy tôi cứ có cảm giác mình bị kích động và tổn thương vì chứng kiến cuộc đấu đá ấy, dữ dội và đẫm máu, của cuộc chiến giữa con người trước cửa nhà tôi.” (W- Các vị khách của tôi)

Có một sự kiện nổi bật trong những ngày Thoreau sống ở Walden: Ngày 25 tháng Bảy, 1846, Thoreau bị bắt giam vì từ chối đóng thuế, để bày tỏ sự phản đối của ông đối với cuộc chiến tranh Mexico và chế độ nô lệ. “...tôi bị bắt giữ và đưa vào nhà giam vì, như đã kể ở một chỗ khác, tôi không đóng thuế cho, hay thừa nhận thẩm quyền của cái nhà nước mua bán đàn ông, đàn bà, trẻ em, như bán trâu bò ngay bên cửa nhà Thượng viện.” (W. Làng) Sự kiện này tác động mạnh đến Thoreau. Tháng 5 năm 1849 ông xuất bản “Bất tuân Dân sự”. Chủ trương Bất tuân Dân sự của Thoreau sau này có ảnh hưởng mạnh mẽ đến Leo Tolstoy, Mahatma Gandhi và Martin Luther King, Jr.

Văn phong của Thoreau là sự đan xen giữa quan sát tự nhiên và trải nghiệm cá nhân, hùng biện, kiến thức lịch sử, biểu tượng ý nghĩa, chất thơ nhạy cảm, tính nghiêm cẩn triết học, và chú trọng những chi tiết cụ thể. Các nhà văn Marcel Proust, William Butler Yeats, Sinclair Lewis, Ernest Hemingway... chịu nhiều ảnh hưởng của ông,

Tuy nhiên, Walden không dễ đọc, vì ba lẽ. Thứ nhất, đây là một giọng văn xuôi cổ, ngôn ngữ nghiêm ngặt. Câu dài phức, mô tả sinh động, chi tiết, ám chỉ sâu xa, đầy ẩn dụ, biểu tượng bóng gió, lối nói giảm nhẹ, cường điệu, nhân cách hóa, mỉa mai, châm biếm, hoán dụ, cải dung, nghịch hợp; nhiều chỗ ông chuyển từ quan điểm khoa học sang quan điểm tiên nghiệm ở giữa câu. Hai là, logic của nó dựa trên một cách hiểu khác về cuộc sống, hoàn toàn trái ngược với cái mà người thường gọi là lương tri. Nghịch hợp, nghịch lí, nước đôi. Ông thích trêu ghẹo, đánh đố, thậm chí lừa bạn đọc. Ba là, nhiều khi không có từ nào có thể diễn đạt thích đáng nhiều ý tưởng không thể nói ra cho rõ ràng. Có lúc Thoreau dùng ngôn ngữ của người không biết chữ mà người đọc phải cố vươn lên mà hiểu lấy. Trên đây là ý kiến của người bản ngữ. Còn về bản dịch, ngẫm khoảng cách về thời gian, văn hóa và ngôn ngữ, bạn đọc hình dung chắc chắn không thể đọc nó dễ dàng trơn tuột. Nếu cuốn sách này “kén” độc giả, thì đó là loại độc giả không kiếm loại sách “dễ đọc.” Nhưng chắc chắn bạn đọc sẽ được đền bù xứng đáng. Nhà thơ Mỹ Robert Frost đã phải thốt lên khi nói về Thoreau và Walden: “Chỉ trong một quyển sách, ... ông đã vượt qua tất cả những gì chúng ta đã có ở Mỹ.”



NGƯỜI DỊCH

Những cuốn sách làm thay đổi nước Mỹ


(Dân trí)- Một cuộc nội chiến có thể nổ ra vì một cuốn sách. Chế độ nô lệ kéo dài cả trăm năm được xóa sổ vì một nữ nhà văn. Mỗi cuốn sách luôn tiềm ẩn một sức mạnh không ngờ.


Of Plymouth Plantation - William Bradford

(Tạm dịch: Từ đồn điền Plymouth)






Tác phẩm được viết bởi người trưởng đoàn tổ chức cuộc di cư từ Anh sang Thế giới mới là nước Mỹ ngày nay. Họ là những người lập nên những đồn điền, trại ấp đầu tiên tại Plymouth thuộc bang Massachusetts. Đây là cuốn sách duy nhất hoàn thiện và tương đối đầy đủ ghi lại thời kỳ đầu của cuộc di cư và là một cứ liệu lịch sử vô cùng quan trọng đối với các nhà nghiên cứu lịch sử Mỹ. Cuốn sách được viết trong thời gian từ 1630 – 1647 trong đó tóm tắt cả một giai đoạn từ 1608 – 1647 với bao biến cố thăng trầm của những người khoang hoang lập địa đầu tiên, những người cha đẻ lập nên nước Mỹ ngày nay.

The Federalist Papers – Alexander Hamilton, James Madison, và John Jay

(Tạm dịch: Luận cương về thể chế liên bang)






Đây là một tuyển tập gồm 85 bài tham luận do Hamilton, Madison và Jay viết để chuẩn bị nền tảng lý luận cho việc Chính phủ Liên bang Hoa Kỳ phê chuẩn bản Dự thảo Hiến Pháp Liên Bang. Cả ba tác giả nói trên cùng sử dụng chung một bút danh là Publius. Bản luận cương được soạn ra từ năm 1788 và được đánh giá là tác phẩm thể hiện đầu óc khoa học chính trị thiên tài, chiều rộng và chiều sâu tri thức của người biên soạn.

The Autobiography of Benjamin Franklin – Benjamin Franklin

(Tạm dịch: Tự truyện của Benjamin Franklin)






Ông là một trong những người có công lập nên Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, là một chính trị gia, nhà khoa học, tác gia, triết gia, nhà phát minh, nhà hoạt động xã hội, nhà ngoại giao… Với vai trò chính trị gia và nhà hoạt động xã hội, ông đã đưa ra ý tưởng về một nước Mỹ độc lập, tự chủ và có quyền tự quyết, tách ra khỏi sự quản lý của Vương quốc Anh. Với vai trò nhà ngoại giao, trong cuộc Cách mạng Mỹ, ông đã thuyết phục thành công nước Pháp hỗ trợ quân sự cho Mỹ trong công cuộc giành độc lập. Tuy cuốn thiếu mất giai đoạn từ năm 1771-1790 nhưng nó vẫn là một trong những tác phẩm tự truyện nổi tiếng và có tầm ảnh hưởng nhất trong lịch sử Mỹ.

The Journals of Lewis and Clark - Meriwether Lewis và William Clark

(Tạm dịch: Nhật trình của Lewis và Clark)






Cuốn sách được viết trong ba năm từ 1803-1806 kể về cuộc thám hiểm xuyên lục địa đầu tiên được thực hiện trên đất Mỹ. Tổng thống Thomas Jefferson giao trách nhiệm này cho hai cựu chiến binh Lewis và Clark. Họ thực hiện một chuyến đi thực địa mang ý nghĩa khoa học và kinh tế trong đó vừa đi vừa ghi chép lại những loài thực vật, động vật, đặc điểm địa lý và những gợi ý khai thác kinh tế cho từng vùng đất. Cuộc hành trình của họ vô cùng khó khăn, vất vả, không có sự hỗ trợ của những phương tiện giao thông hiện đại như bây giờ, hơn thế nữa trong giai đoạn này mối quan hệ giữa người Mỹ di cư và người dân bản địa rất căng thẳng. Thực hiện chuyến hành trình, Lewis và Clark đã mạo hiểm với tính mệnh của mình.

Walden - Henry David Thoreau

(Tạm dịch: Hồ Walden)






Cuốn sách còn có tên Life in the Woods (Cuộc sống ở trong rừng) được viết bởi nhà văn theo thuyết tiên nghiệm nổi tiếng Henry David Thoreau. Tác phẩm viết về chủ nghĩa tự do cá nhân, những trải nghiệm xã hội, những cuộc chu du của ý thức con người, mang văn phong trào phúng và đề cao tính tự lập tự cường của con người. Xuất bản năm 1854, truyện kể về những trải nghiệm của Thoreau trong hai năm sống một mình trong một cabin nhỏ ở gần hồ Walden, giữa một cánh rừng gần thị trấn Concord thuộc bang Massachusetts.

Uncle Tom’s Cabin - Harriet Beecher Stowe

(Tạm dịch: Túp lều bác Tom)






Đây là cuốn sách đầu tiên trong lịch sử văn học Mỹ có lượng tiêu thụ hàng triệu bản và gây ra một chấn động lớn trong lịch sử chính trị xã hội Mỹ. Cuốn sách viết về những người nô lệ da đen và lên án chế độ dã man, vô nhân đạo này. Ngay lập tức, nó châm ngòi cho một làn sóng dữ dội phản đối sự tồn tại của chế độ nô lệ trên đất Mỹ. Trước đây, làn sóng này đã manh nha âm ỉ nhưng chỉ tới khi tác phẩm này ra đời, vấn đề mới thực sự trở nên nóng hổi và được giải quyết triệt để bằng một cuộc nội chiến nhằm xóa bỏ chế độ nô lệ. Tác giả Harriet Beecher Stowe khi gặp tổng thống Abraham Lincoln đã được chào đón bằng câu nói nổi tiếng: “Hoá ra bà là người phụ nữ bé nhỏ đã khơi mào ra cuộc nội chiến này.”
Adventures of Huckleberry Finn - Mark Twain
(Tạm dịch: Những chuyến phiêu lưu của Huckleberry Finn)






Cuốn sách được xuất bản tháng 2/1885, được coi là một trong những tiểu thuyết vĩ đại của Mỹ. Đồng thời nó cũng là bản tuyên ngôn của văn học Mỹ, chính thức “ly khai” khỏi nền văn học Anh vì trong chuyện đã có nhiều màu sắc ngôn ngữ riêng biệt của người Mỹ và những đặc trưng về văn hoá, lối sống của người dân địa phương. Truyện khắc hoạ cuộc sống đầy màu sắc sinh động của những người dân hai bờ sông Mississippi.
The Souls of Black Folk - W. E. B. Du Bois
(Tạm dịch: Những linh hồn da đen)






Những linh hồn da đen là một tác phẩm thuộc dòng văn học cổ điển kết hợp giữa lịch sử xã hội học và lịch sử văn học của nhóm người Mỹ gốc Phi. Cuốn sách được xuất bản năm 1903 là một tuyển tập những bài viết về nạn phân biệt chủng tộc được lấy từ chính những trải nghiệm của tác giả và có một chỗ đứng đáng kể trong những tác phẩm văn học của người Mỹ gốc Phi. Đây cũng là một trong những tác phẩm quan trọng của ngành khoa học xã hội vì nó ra đời từ rất sớm và có sử dụng phương pháp nghiên cứu xã hội học.
The Promised Land - Nicholas Lemann
(Tạm dịch: Miền đất hứa)






Tác phẩm tập trung khai thác giai đoạn từ 1940-1970, trong thời kỳ này khoảng 5 triệu người da đen chuyển từ các đồn điền phía Nam lên các khu công nghiệp phía Bắc để tìm kiếm việc làm sau khi chế độ nô lệ đã bị xoá sổ. Thời kỳ này còn được biết tới với cái tên “Cuộc đại di cư của những người da đen”. Ở các thành phố miền Bắc bắt đầu hình thành những khu phố da màu. Lemann đã tới nhiều thành phố để quan sát và khắc hoạ cuộc sống của họ, đa số đều sống trong cảnh nghèo đói, tũng quẫn. Tác phẩm là một tiếng chuông cảnh tỉnh để nhắc chính phủ và người dân Mỹ quan tâm hơn tới một nhóm cộng đồng không nhỏ nhưng dường như bị bỏ quên.
On the Road - Jack Kerouac
(Tạm dịch: Trên đường)






Tác phẩm được viết bắt đầu từ năm 1951-1957 và là một tác phẩm tự truyện dựa trên những chuyến đi của Kerouac và những người bạn trong những năm 1950. Đi nhiều và tận hưởng là cách định nghĩa mới của thế hệ trẻ về cuộc sống thời hậu chiến tranh thế giới thứ 2. Thời kỳ này, thịnh hành nhất là nhạc jazz, thơ ca và... các loại thuốc gây nghiện. Cuốn truyện được đánh giá là một trong những tiểu thuyết xuất sắc nhất của thế kỷ 20.
The Feminine Mystique - Betty Friedan
(Tạm dịch: Phụ nữ thật khó hiểu)






Cuốn sách lần đầu tiên được xuất bản năm 1963, lấy cảm hứng từ phong trào đòi quyền bình đẳng của phụ nữ Mỹ trong những năm 1950. Năm 1957, Friedan được yêu cầu thực hiện một cuộc điều tra nhỏ về mức độ hài lòng của phụ nữ Mỹ trong cuộc sống gia đình. Kết quả mà cô thu được là đa số những người phụ nữ nội trợ đều cảm thấy không hạnh phúc. Điều này đã thúc đẩy bà bắt đầu thực hiện một cuộc nghiên cứu lớn hơn về những điều bí ẩn trong tâm lý phụ nữ trên bình diện tâm lý học và dưới sự ảnh hưởng của truyền thông, quảng cáo.


Hồ Bích Ngọc
Tổng hợp