Hiển thị các bài đăng có nhãn Danh nhân Việt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Danh nhân Việt. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 25 tháng 5, 2016

Karl Marx - nhà thơ của tình yêu và bão táp



Trong chúng ta, nhiều người có lẽ chỉ biết rằng, Marx là một chiến sĩ Cách mạng, là một nhà bác học lớn nhất của nhân loại, người sáng lập ra Chủ nghĩa Cộng sản khoa học, chứ ít ai biết rằng, Marx còn là một nhà thơ xuất sắc.


Trên thực tế, từ năm 15 tuổi, Marx đã làm thơ, và làm thơ rất hay. Thơ của Marx đến với bạn đọc Việt Nam, chủ yếu được dịch từ các tập “Ca khúc”, “Thơ tình yêu”, ‘Thơ tặng cha yêu qúy”, “Thơ viết những năm từ 1835 đến 1836”, và tập dân ca do Marx sưu tầm từ nhiều nước với lời đề tặng Jenny.

Điều đặc biệt là thơ của Marx viết ra đều không đem in, trừ hai bài in vào đầu năm 1841, trên tờ “Aetheneam”, cơ quan ngôn luận của nhóm Hegel trẻ. Hai bài đó in với một tựa đề chung là “Những ca khúc hoang dại”. Ngay sau khi hai bài thơ được công bố, một tờ báo xuất bản tại thành phố Phranphua đã đánh giá: “Marx là một tài năng thuộc về nguyên tính”. Điều đó hoàn toàn đúng với con người “dấn thân” của Marx.

Trong bài “Không đề”, dường như Marx đã tuyên ngôn về điều đó:

Kant và Fichte thích tìm nơi xa lạ
Trên trời sao, thăm thẳm, mông lung;
Tôi chỉ gắng hiểu sao cho cặn kẽ
Những gì tôi tìm thấy dọc đường.

Tìm hiểu cuộc đời của Marx, chúng ta biết rằng, ngay trong tháng đầu tiên, khi Marx đến Bon để học đại học, Marx đã viết liền 100 bài thơ gởi tặng Jenny, và Jenny đã khóc, đã viết thư trả lời, rằng đó không phải là sự nghiệp cả cuộc đời của Marx. Jenny đã nói đúng, bởi vì sau này Marx không trở thành nhà thơ, mà trở thành lãnh tụ của giai cấp vô sản toàn thế giới. Nhưng trái tim Marx, tâm hồn Marx, là thuộc về tình yêu, thuộc về tranh đấu cho công bằng xã hội, nên nó vĩnh viễn rung lên những giai điệu cuộc đời. Vì thế ta càng dễ hiểu, vì sao thơ của Marx chủ yếu viết tặng Jenny, viết tặng người chị ruột Xôphi, và viết tặng người cha yêu dấu. Chỉ riêng với những bài thơ viết tặng Jenny, chúng ta đã có thể nói rằng, Marx là một nhà thơ tình kiệt xuất.

Đọc những bài thơ ấy, ta thấy rất rõ, trái tim yêu đương của Marx luôn rung lên trên từng cung bậc, chỉ nhằm để khẳng định một điều duy nhất: Anh yêu em! Yêu em! Yêu em! Và rất yêu em!

Tiếng đàn anh đã cất lên
Những lời chung thủy vang trên núi ngàn
Niềm vui, nỗi khổ ngập tràn
Khúc tình ca vẫn rộn ràng thi nhân

Đến cùng anh hỡi nữ thần
Muôn trùng xa cách vẫn gần đó em!
Qua ngàn thác lửa tình duyên
Qua bao bí ẩn lọc nên thơ này:
Yêu em, yêu trọn tháng ngày…

(Trích “Jenny”)

Marx và Jenny yêu nhau, đó là một tình yêu tuyệt diệu, một mối tình vĩ đại, mà lịch sử tình yêu của nhân loại đã từng được chứng kiến. Với Marx, tình yêu ấy cháy lên rừng rực trong từng câu chữ, như gió bão cháy lên từ trái tim mặt trời ngàn triệu độ.

Jenny! Em hãy cười và nhìn anh âu yếm hỏi
Sao thơ anh toàn viết “Gửi Jenny”?
Có gì đâu em ơi, những mạch đập thầm thì
Những khúc hát lòng anh đều hướng về em cả!
Có gì đâu em ơi, từng âm thanh rộn rã
Từng nét chữ ngỡ ngàng đều rực rỡ tên em!

(Trích “Gửi Jenny”)

Với Marx, sự bày tỏ tình yêu bao giờ cũng mãnh liệt- mãnh liệt như chính con người “dấn thân” của Marx.

Hãy xem! Anh có thể viết hoài, viết mãi tên em
Hai chữ JENNY lên ngàn cuốn sách
Nhưng làm sao ghi được hở em, những ý tình hiển hách
Những ước mong trong sáng ngọt ngào

Những vần thơ tươi mát dạt dào
Những ánh thép ngời ngời tinh khí
Những niềm vui của thánh thần, dũng sĩ
Những nỗi đau u uất của dân thường!

Anh có thể đọc tên em trong muôn vàn tinh tú
Và gió mây, và sóng cồn bão tố
Sẽ trả lại hồn anh hai tiếng tên em
Bao thế kỷ sẽ ngước nhìn, và cảm thấy thân quen
Vĩnh viễn Jenny là cái tên tình ái!

(Trích “Gửi Jenny”)

Thơ tình của Marx được viết với bút pháp rất mãnh liệt, cả về cấu tứ, cả về hệ thống ngôn ngữ sử dụng, bởi vậy, nó có được sức mạnh của cú sét ái tình, nhưng rồi nó vẫn lắng được những gì mà đất trời đem lại sau cơn cuồng phong bão táp.

Ơi tình yêu ta, biếc xanh từng ngọn cỏ
Tự tim ta, sóng vỗ đến vô hồi…

(Tr “Gửi Jenny”)

Sinh thời, Marx từng trả lời con gái, rằng, “hạnh phúc là tranh đấu”, bởi vậy, tình yêu trong thơ của Marx cũng gắn liền với tranh đấu - tranh đấu để khẳng định tình yêu chung thủy.

Hát lời bão lửa cùng em
Ấy là tiếng hát nghìn đêm của lòng
Băng qua muôn dặm bão bùng
Yêu nhau, em nhé, ta cùng đấu tranh!

(Trích “Khúc hát lòng anh”)

Trong bài “Giãi bày”, Marx cũng đã từng khẳng định điều đó:

Anh phải tự vượt lên
Bằng tâm hồn cháy bỏng
Phá tan mọi xích xiềng
Tìm em trong náo động.

Đâu phải lời tốt đẹp
Là dấu hiệu tình yêu
Làn môi em dẫu khép
Rộn tình anh sớm chiều.

Đối với Marx, dường như kỷ niệm đẹp nhất của tình yêu, chính là kỷ niệm về sự đấu tranh cho hạnh phúc của tình yêu bất diệt. Kỷ niệm ấy, tự nó sẽ đọng lại, đọng lại trên cung đàn bất diệt của toàn nhân loại.

Bao nhiêu kỷ niệm êm đềm
Thành bao nốt nhạc rung trên đất này
Thánh thần kia có đắm say
Cũng lùi xa, trước sóng đầy tình ta.

(Trích “Jenny”)

Trong đêm trường tăm tối của chủ nghĩa tư bản, thứ chủ nghĩa mà như Marx nói: “đẫm máu tới từng lỗ chân lông”, Marx chính là người nhóm lửa thiêu đốt nó. Năm 30 tuổi(1848), Marx đã cùng với Engels viết “một cuốn sách nhỏ tràn đầy thi vị chân chính, muôn đời sẽ là bài ca của những bài ca chủ nghĩa Marx, đó là Bản Tuyên ngôn Cộng sản”. Sự nghiệp tranh đấu của Marx đi vào hồi quyết liệt- quyết liệt tới mức Marx bị trục xuất khỏi tổ quốc, phải sống những năm tháng lưu vong đói và rét tới cùng cực(tới mức Jenny phải cầm cố tất cả đồ đạc, kể cả đem nhẫn cưới đi bán). Nhưng từ trong những năm tháng cơ hàn gian nan ấy, Marx đã chấm ngòi viết vào tim mình, hoàn thành tác phẩm kiệt xuất nhất, khoa học nhất của thời đại- và của mọi thời đại- đó là tác phẩm TƯ BẢN, kim chỉ nam của toàn bộ học thuyết Marxist Leninist, khẳng định giai cấp vô sản toàn thế giới phải liên hiệp lại, đứng lên đào mồ chôn vùi chủ nghĩa tư bản, tự giải phóng đời mình khỏi xiềng xích áp bức bất công.

Trong bài “Niềm kiêu hãnh của con người”, Marx đã viết lên những dòng thơ lửa cháy, kêu gọi nhân loại đứng lên tranh đấu cho tự do, cho bình quyền, bình đẳng:

Tôi sẽ chẳng ngạc nhiên chi hết
Trước những con người xông thẳng tới trời cao!
Không! Không thể sống những phận hèn lê lết
Hãy nhìn lên và ngẩng cao đầu!
Hãy vươn tới, nhũng gì ta mơ ước
Những nỗi niềm khao khát tựa dầu sôi
Ta chẳng muốn cảnh tro tàn, đổ nát
Ta xông lên, muôn dặm biên thùy.
Chẳng ai bắt ta ngừng hy vọng
Chớ bi quan, sợ hãi, chán chường!
Chỉ có đốt hồn ta bằng lửa nóng
Mới làm nên những chuyện khác thường!

Trung thành với lý tưởng ấy, thơ của Marx cũng bùng lên cơn cuồng phong của bão táp Cách mạng, từng chữ gầm lên như trái phá bắn thẳng vào thành trì chủ nghĩa tư bản.

Hãy đòi cả bầu trời
Cùng xông vào chiến đấu
Cho mây trời tóe máu
Trong lửa bốc thành hơi.

(Trích “Bài ca bão táp”)

Thơ của Marx chính là vũ khí tranh đấu. Rất nhiều bài thơ của người, ngân vang lời kêu gọi tranh đấu, đọc lên nghe sang sảng tiếng sắt thép chói lòa xung trận.

Băng lên qua bão táp
Làm chủ cuộc đời này
Dù mỏi đôi cánh bay
Không được ngừng tiếng hót
Hãy vươn lên phía trước
Cưỡi lên trên trời mây.

(Trích “Tiếng gọi”)

Tất cả sức mạnh ngôn ngữ mà Marx biến được thành tình yêu và bão táp trong thơ, chính là xuất phát từ trái tim rất đỗi con người của Marx.

Trong bài “Tặng cha”, Marx tâm sự:

Cha thân yêu! Những khúc hát thần tiên
Từ dòng máu cha xưa đã thấm vào con đấy!
Noi gương cha con không ngừng vươn tới
Và xem thường mọi gian khó, nguy nan.

Với người cha yêu dấu, Marx tự thấy mình là bé bỏng. Người viết rất chân tình trong bài “Đoạn kết”:

Con chỉ dám gởi về cha những vần thơ náo động
Đã nhen lên, như lửa sáng, chân thành
Không phải thơ hay, nhưng là tiếng tốt lành
Của một đứa con nơi phương trời xa thẳm.

Khi mà tình người được hun đúc thành thơ, thơ của Marx bùng cháy những nỗi niềm làm tim ta rướm lệ.

Đây là lời than khóc của “Người đàn bà mù”:

Chúa Trời đã gửi cho tôi
Nỗi đau đớn ấy, ai người dễ quên?
Chao ơi, tôi khát, tôi thèm
Được nhìn vẻ đẹp vút lên mây trời!
Lẽ nào đã khép trong tôi
Niềm vui, cảm hứng sáng ngời thần tiên.
Những gì cuộc sống tạo nên
Trong tôi vĩnh viễn thành quên lãng rồi!
Chao ôi, biết mấy năm trời
Nén đau trong ngực, không lời thốt ra.
Vậy mà bão táp bên ta
Cứ giằng, cứ xé, biết là cậy ai!

Viết về người mẹ đã khuất, thơ Marx như nấc lên nghẹn ngào trong từng chữ:

Ơi mẹ thân yêu
Nếu sương chẳng xuống
Thì chúng con uống
Nước mắt chúng con!

Nước mắt chúng con
Khóc thương nhớ mẹ
Từ lâu có thể
Muốn vỡ mắt ra!

(Trích “Thăm mẹ”)

Thơ của Marx là thơ của tình yêu và bão táp, nhưng suy cho cùng, vẫn là thơ của một trái tim rất đỗi con Người.

Ta đứng trên mặt đất
Muốn tự mình sáng lên
Bằng tâm hồn chân thật
Bằng sức sống thanh niên.

(Trích “Gởi các vì sao”)

HỒ TĨNH TÂM (NGƯỜI ĐƯƠNG THỜI)

Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2016

Khai Dân Trí - Chấn Dân Khí - Hậu Dân Sinh



TTO - Câu nói của Phan Châu Trinh lý giải vì sao tuổi đời không cao nhưng các sĩ phu thời bấy giờ đã gọi ông là “cụ Phan” một cách kính trọng.


Phan Châu Trinh và con trai Phan Châu Dật - Ảnh: tư liệu gia đình















"Nghe đọc bài Khai dân trí - Chấn dân khí - Hậu dân sinh"



“Tôi xin nói thực với các anh, tôi đã bỏ hai phần ba đời tôi để tìm lấy thuốc mà chữa trị cho nước nhà. Thông minh tôi tuy kém, tài trí tôi tuy hèn, nhưng trong buổi giao thời này tôi có thể dám nói rằng: cái trách nhiệm của nòi giống dân tộc Việt Nam tôi quyết không nhường cho ai cả”.

Câu nói đậm “chất Quảng Nam” của Phan Châu Trinh lý giải vì sao tuổi đời không cao nhưng các sĩ phu thời bấy giờ đã gọi ông là “cụ Phan” một cách kính trọng.

Không nhường cho ai

“Không nhường cho ai” nên tuy đã đỗ phó bảng, đã có một chức quan trong bộ lễ của triều đình Huế nhưng Phan Châu Trinh không cam phận làm quan. Cùng với những nhà Nho yêu nước, ông ngày đêm suy nghĩ, học hỏi hòng tìm một con đường đưa dân tộc thoát vòng nô lệ.

Học đủ cổ thư, ông dành ra nhiều thời gian đọc tân thư và những chuyển biến tư tưởng đã đến từ đây. Ông hướng đến con đường giải phóng bằng tự lực, tự cường, bằng khai mở văn hóa, khai sáng con người, mà trước hết là tự nhìn nhận những yếu kém, thua sút.

Ông viết: “Than ôi! Nước Nam bây giờ dân khí yếu hèn, dân trí thì mờ tối, ví với các nước châu Âu, châu Á cách xa không biết bao nhiêu dặm đường...”.

Có đặt vào hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa, dân trí thật sự mờ tối của năm 1903 mới thấy được giá trị vượt thời đại của lời tự thán minh triết này. Học giả Hoàng Xuân Hãn phân tích: “Sau khi phong trào Cần vương bị đàn áp tan rã hoàn toàn, Phan Châu Trinh đã đi sâu nghiên cứu những nhược điểm cơ bản về văn hóa, xã hội Việt Nam. Cụ thấy rõ nguyên nhân sâu xa đã đưa đến mất nước là sự thua kém của xã hội ta so với phương Tây. Phan Châu Trinh đã đưa ra một đường lối mới để tìm lối thoát cứu nước...”.

Đường lối mà Phan Châu Trinh tìm ra: “Chỉ nên trông cậy ở chính mình, chớ vọng ngoại vì vọng ngoại ắt là chết. Hãy coi trọng nền hòa bình của đất nước nếu chúng ta không muốn mua lấy cái chết. Sự giải thoát của chúng ta nằm chủ yếu trong sự học hành, mở mang trí tuệ”.

Tự nhận về mình trách nhiệm lớn lao, “không nhường cho ai”, Phan Châu Trinh từ quan. Mọi hoạt động của ông từ đây chỉ tập trung cho một mục đích: duy tân - con đường mới tươi sáng cho dân tộc, đất nước.

Ông viết Tỉnh quốc hồn ca gửi nhân dân; viết Điều trần gửi Toàn quyền Pháp; viết Chí thành thông thánh, Đông Dương chính trị luận gửi các nhân sĩ trí thức; viết Thư thất điều gửi vua Khải Định; viết Quân trị chủ nghĩa, Dân trị chủ nghĩa nói chuyện với đồng bào; viết báo, làm thơ...

Ông tham gia sáng lập Trường Đông Kinh nghĩa thục, Trường Dục Thanh và nhiều trường khác của các nhà Nho yêu nước, vận động mở tòa báo, vận động bỏ hủ tục, mê tín dị đoan, phổ biến chữ quốc ngữ, lập hội học, hội buôn, hội diễn thuyết... hòng mở mang tri thức, củng cố kinh tế.

Ông động viên từng người dân: “Xét lịch sử xưa, dân nào khôn ngoan, biết lo tự cường tự lập, mua lấy sự ích lợi chung của mình thì ngày càng bước tới con đường vui vẻ. Còn dân ngu dại, cứ ngồi yên mà nhờ trời, mong đợi trông cậy ở quan, giao phó tất cả quyền lợi của mình vào trong tay một người hay một chính phủ muốn làm sao thì làm mà mình không hành động, không kiểm xét thì dân ấy phải khốn khổ mọi đường”.

Ông Nguyễn Đông Hào, cháu ngoại cụ Phan, chuẩn bị cho lễ giỗ lần thứ 90 tại nhà thờ Phan Châu Trinh ở TP.HCM - Ảnh: Tự Trung


“Gian nan chi kể việc con con”

Khi những tư tưởng tự lập, tự đấu tranh cho quyền lợi của mình đã thấm vào người dân, cuộc Trung kỳ dân biến chống sưu thuế nổ ra như một quả bom.

Dù không phải người tổ chức trực tiếp, thực dân Pháp vẫn đày Phan Châu Trinh ra Côn Lôn (tức Côn Đảo - PV) vì nhận thức rõ tầm ảnh hưởng của ông. Phan Châu Trinh điềm tĩnh đón nhận thử thách cùng các đồng chí mình, những ngón tay quen dùng bút lông điềm tĩnh cầm búa đập đá, điềm tĩnh ngâm ngợi: “Những kẻ vá trời khi lỡ bước/ Gian nan chi kể việc con con”.

Sau khi được thả trước thời hạn nhờ can thiệp của Hội Nhân quyền Pháp, bị quản thúc ở Mỹ Tho, Phan Châu Trinh vận động để được đưa sang Pháp, mục đích không ngoài việc tiếp tục học hỏi cái hay, cái mới để tiếp tục công cuộc “Khai dân trí - Chấn dân khí - Hậu dân sinh”. Sau 14 năm ở xứ người, ông lại trở về say mê tiếp tục cuộc duy tân.

Hơn 80 năm sau, bà Phan Thị Minh (tức Lê Thị Kinh), cháu ngoại của ông, đã hai lần sang Pháp, ăn ngủ ở thư khố, Cục Lưu trữ quốc gia để sao lục, dịch thuật hàng ngàn trang tư liệu gồm thư trao đổi giữa nhà cầm quyền Pháp và Đông Dương về Phan Châu Trinh, những báo cáo của mật thám Pháp được giao theo sát từng hoạt động của ông và bạn bè, đồng chí từng ngày, từng giờ, những bản thảo mà mật thám đã lấy được...

Bà Phan Thị Minh (Lê Thị Kinh), cháu ngoại cụ Phan, hơn 20 năm sưu tầm tư liệu, nghiên cứu về Phan Châu Trinh. Bà hiện sống tại nhà lưu niệm Phan Châu Trinh ở Đà Nẵng - Ảnh: Tự Trung


Tại nhà lưu niệm Phan Châu Trinh ở Đà Nẵng đầy những báu vật bằng giấy ấy, bà Minh run run xúc động kể: “Khi tôi 1 tuổi, được mẹ bồng vào Sài Gòn thăm ông ngoại (bà Minh là con bà Phan Thị Châu Liên, con gái lớn của cụ Phan - PV).

Ấy là những ngày cuối cùng của cụ Phan, cũng là những ngày ít ỏi mẹ tôi được gần cha mình. Cả đời cụ bôn ba hoạt động khiến các con gái gần như lớn lên trong cảnh không cha...

Tôi được cha mẹ giao lại những bản thảo mà cụ Phan đã mang theo bên người khi ông ra Bắc, vào Nam, sang Pháp, và đến lượt cha mẹ tôi khổ công gìn giữ: nào rang gạo chống ẩm, rang hồ tiêu chống mối, bỏ vào chum sành chôn giấu mỗi khi chạy bom đạn... Bắt tay vào nghiên cứu cụ ở tuổi 70, nhiều thông tin khiến tôi phải rớt nước mắt”.

Quả là muốn rớt nước mắt khi đọc những báo cáo của mật thám: việc chấm sửa ảnh kiếm không đủ chi phí, Phan Châu Trinh dọn sang chỗ khác để tiết kiệm tiền thuê nhà; Phan Châu Trinh ốm nặng không đủ sức đi làm sau khi nghe tin con trai mất...

Và những kết luận khách quan đượm phần kính nể của Sở mật vụ Pháp: “Phải công bằng mà thừa nhận cuộc sống của Phan Châu Trinh là đáng kính trọng. Y mang tinh thần dân tộc rất cao mà y không hề giấu giếm với các đồng bào y ở đây và cả với những người Pháp...”.

14 năm ở Pháp, vật lộn với cuộc mưu sinh, với những mùa đông lạnh giá không đủ thức ăn, sưởi ấm, với ngôn ngữ và văn hóa xa lạ, với quan điểm chính trị khác nhau của những người cùng yêu nước, với những mất mát, đau khổ riêng tư...

Đấu tranh để được về nước, ông chỉ còn kịp tổ chức hai cuộc diễn thuyết giữa Sài Gòn. Tài liệu của Sở mật thám Nam kỳ còn ghi rõ: “Tối 27-11-1925, mặc dù bị sốt rất cao, Phan Châu Trinh vẫn quyết thực hiện buổi diễn thuyết thứ hai nhằm tăng thêm uy tín của ông ở Nam kỳ...”.

Hôm ấy ông đã chỉ ra: cần phải thay chế độ quân trị bằng dân trị. “Dân trị tức là pháp trị. Quyền hạn và bổn phận của mỗi người trong nước, bất kỳ người làm việc nhà nước hay người thường đều có pháp luật chỉ định rõ ràng, không khác gì là đã có đường gạch sẵn, cứ trong đường ấy mà đi, tự do bước tới bao nhiêu cũng được, không ai ngăn trở cả”.

Các nhân sĩ ở miền Trung, Hà Nội nức lòng chờ Phan Châu Trinh ra diễn thuyết, nhưng rồi ông đã không vượt qua được số phận...

PHẠM VŨ

Thứ Năm, 10 tháng 3, 2016

Đào Duy Từ còn mãi với non sông



Đào Duy Từ là nhà chính trị quân sự lỗi lạc, danh nhân văn hóa kiệt xuất, bậc công thần số một của triều Nguyễn, Sự nghiệp của ông là đặc biệt to lớn đối với dân tộc và thời đại mà ông đã sống. Ông bắt đầu thi thố tài năng từ năm 53 tuổi đến năm 62 tuổi thì mất. Chỉ trong 9 năm ngắn ngủi (1625-1634), Đào Duy Từ đã kịp làm nên kỳ tích phi thường: Giữ vững cơ nghiệp của chúa Nguyễn ở Đàng Trong chống cự thành công với họ Trịnh ở phía Bắc; Mở đất phương Nam làm cho Nam Việt thời ấy trở nên phồn thịnh. Đặt nền móng vững chắc cho triều Nguyễn, sửa sang chính trị, quan chế, thi cử, võ bị, thuế khóa, nội trị, ngoại giao. 

Sau khi ông mất (1634) triều Nguyễn còn truyền được 8 đời (131 năm), cho đến năm 1735, khi Vũ Vương mất, thế tử chết, Trương Phúc Loan chuyên quyền, lòng người li tán, nhà Tây Sơn nổi lên chiếm đất Quy Nhơn, họ Trịnh lấy đất Phú Xuân, thì cơ nghiệp nhà Nguyễn mới bị xiêu đổ. 

Đào Duy Từ mang tâm nguyện và chí hướng lớn lao như vua Trần Thái Tông “Nếu chỉ để lời nói suông cho đời sau, sao bằng đem thân mình đảm nhận trọng trách cho thiên hạ trước đã”. Di sản của ông không chỉ là trước tác mà là triều đại. Ông là nhà thực tiễn sáng suốt có tầm nhìn sâu rộng lạ thường. Ngay trong trước tác của ông cũng rất trọng gắn lý luận với thực tiễn. Binh thư “Hổ trướng khu cơ” gắn với những danh tướng cầm quân lỗi lạc một thời Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến. Vũ khúc, tuồng cổ Sơn Hậu gắn với di sản văn hóa Huế lưu dấu mãi cho đến tận ngày nay. Việc sửa sang chính trị, quan chế, thi cử, võ bị, thuế khóa, nội trị, ngoại giao gắn với hệ thống chính trị tiến bộ hợp lòng dân. Ông thật xứng danh là bậc kỳ tài muôn thuở với những di sản còn mãi với non sông. 

Đào Duy Từ với Lũy Thầy, Quảng Bình 

Theo Trang thông tin điện tử tỉnh Quảng Bình http://www.quangbinh.gov.vn/ “Năm Canh Ngọ 1630, ông chủ xướng việc thiết kế và chỉ đạo xây dựng hai công trình phòng thủ quan trọng là Lũy Trường Dục ở huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình (1630) và Lũy Thầy từ cửa sông Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu (Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình). Đây là chiến lũy quan trọng, giúp chúa Nguyễn có thể phòng thủ hiệu quả trước nguy cơ tấn công của quân Trịnh.” Sách Việt Nam sử lược có viết chi tiết về việc Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến đã giúp chúa Nguyễn bày mưu định kế, luyện tập quân lính xây đồn đắp lũy để chống với quân họ Trịnh. Người ta thường gọi lũy ấy là lũy Thầy, nghĩa là lũy của Đào Duy Từ đắp ra. 

Theo tài liệu của Trương Quang Nam (báo Thanh Niên) được đặng lại bởi trang lịch sử Việt Nam http://lichsuvietnam.info/. Năm 1992, Bộ Văn hóa, Thông tin và Thể thao đã ra quyết định công nhận di tích lịch sử đối với hệ thống Lũy Thầy tại thị xã Đồng Hới và huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình với nhiều giá trị to lớn. Tại hồ sơ lưu ở Ban Quản lý di tích - danh thắng tỉnh Quảng Bình, lũy Thầy là một hệ thống thành lũy bằng đất, đá được hình thành trong thời gian 3 năm (1630-1634) với tổng chiều dài gần 34 km gồm lũy Trường Dục, lũy Trấn Ninh (lũy Đầu Mâu) và lũy Trường Sa. Lũy Thầy là một công trình kiến trúc quân sự có giá trị trong việc nghiên cứu lịch sử xây dựng thành lũy ở Việt Nam, thể hiện sự kết hợp một cách khoa học giữa thành lũy, sông ngòi, hầm hào liên hoàn, hỗ trợ cho nhau. Ngoài công dụng quân sự, lũy còn có tác dụng về nông nghiệp, thủy nông, thủy lợi như ngăn gió bão, gió mùa, hạn chế cát bay. Và nhiều nét sinh hoạt văn hóa khác gắn liền... 

Trong cả hệ thống, lũy Đầu Mâu thuộc làng Lệ Kỳ, xã Vĩnh Ninh, huyện Quảng Ninh được cho là còn khá nguyên vẹn. Năm 1631, sau khi xây xong lũy Trường Dục, chúa Nguyễn chưa yên tâm bèn sai Đào Duy Từ và Nguyễn Hữu Dật đi Quảng Bình xem xét hình thế núi sông vùng Đông Hải để xây thêm thành lũy phòng ngự. Khảo sát xong, Đào Duy Từ tâu: Thần xem từ cửa Nhật Lệ đến núi Đầu Mâu, phía ngoài có nước khe, bùa lũy sâu rộng Nguyễn Phúc Nguyên đồng ý cho xây ngay. Bia Định Bắc Trường Thành mô tả lũy Đầu Mâu như sau: "Lũy Đầu Mâu cao 1 tượng 5 thước (tương đương 6m), phía ngoài đóng cọc gỗ lim, phía sau cọc tre, đổ đất lên 5 tầng cấp để voi ngựa có thể bước lên và di chuyển dễ dàng trên mặt lũy. Cứ cách 3-5 tượng thì xây 1 pháo đài để đặt 1 súng thần công, cứ cách 1 tượng thì đặt 1 súng phóng đá, sỏi - tất cả tạo thành một công trình phòng thủ hiểm yếu và kiên cố nhất". Lũy có chiều dài 12 km.” 

Đền thờ Đào Duy Từ ở làng Hoa Trai, Tỉnh Gia, Thanh Hóa 

Theo trang thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa http://www.thanhhoa.gov.vn Đào Duy Từ là người làng Hoa Trai, Ngọc Sơn, Tỉnh Gia, Thanh Hóa. Nơi đây có đền thờ của ông (xem ảnh trên). Huyện Tỉnh Gia hiện là điểm đến mới của du khách “Sự kết hợp hài hòa giữa các cảnh quan biển, đảo, đồng bằng, trung du và miền núi đã tạo cho Tĩnh Gia thế mạnh phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là du lịch. Ðến với Tĩnh Gia, du khách không thể không ghé thăm những địa danh nổi tiếng như: Hòn Bảng, Hòn Biện Sơn, Hòn Mê, núi Ngọc Sơn, núi Am, núi Thề Nguyền, hồ Yên Mỹ, động Trúc Lâm, nhà thờ Bùi Thị Xuân, di tích kiến trúc núi đá nghệ thuật thờ Quận công Lê Ðình Châu, nhà thờ xứ Ba Làng xây dựng năm 1893, đền thờ Lương Chí thờ Ðào Duy Từ,... Tất cả tạo thành quần thể du lịch vô cùng độc đáo, là sự tổng hoà giữa những cảnh đẹp do thiên nhiên ban tặng cùng các truyền thuyết, dấu tích lịch sử.” 

Trang Du lịch Sẩm Sơn http://www.samson.vn/ giới thiệu cụm di tích Lạch Bạng có: “Chùa Đót Tiên, đền thờ Quang Trung, nhà thờ Ba Làng là một trong số nhà thờ được xây dựng sớm nhất ở Việt Nam. Trên đường về thành phố Thanh Hóa, du khách dừng lại làng Hoa Trai ( Nguyên Bình – Tĩnh Gia ) để dâng hương tại đền thờ Đào Duy Từ - một danh nhân văn hóa ở quê Thanh..” 

Đền thờ Đào Duy Từ tại làng Tùng Châu, Hoài Nhơn, 

Trang Hoài Nhơn Online, http://hoainhon.vn/diendan/showthread.php?t=684 , theo Cao Văn Phụng: “ Sau khi Đào Duy Từ qua đời (1634) chúa Nguyễn Phúc Nguyên cho đưa thi hài ông về mai táng và lập đền thờ tại làng Tùng Châu thuộc xã Hoài Thanh (Hoài Nhơn). Di tích lăng mộ Đào Duy Từ nay thuộc địa phận thôn Phụng Du, xã Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn. Năm Gia Long 4 (1805) nhà Nguyễn xét công trạng khai quốc công thần, Đào Duy Từ được xếp hàng đầu, được cấp 15 mẫu tự điền và 6 người trông coi phần mộ. Đến năm Minh Mệnh 17 (1836), triều đình lại sai dân sở tại sửa chữa lăng mộ cho ông. Trải qua thời gian và chiến tranh, lăng mộ ông bị hư hại nhiều. Lần sửa sang gần đây nhất được tiến hành năm 1999. 

Di tích Nhà thờ Đào Duy Từ hiện tại thuộc thôn Ngọc Sơn, xã Hoài Thanh Tây, huyện Hoài Nhơn. Nhà thờ nằm trong khuôn viên một thửa đất hình chữ T có diện tích 1.616m2 , được xây dựng vào năm Tự Đức 12 (1859), đã trãi qua nhiều lần trùng tu. Nhà thờ có tam quan cao khoảng 6m, hai mái lợp ngói âm dương, trên có bốn chữ lớn “Quốc công từ môn” (cổng đến thờ Quốc công) ghép bằng mảnh sứ, hai bên đắp phù điêu hình hai con dơi cánh điệu, đường nét khá sắc sảo, bốn trụ góc có hình rồng uốn lượn. Qua Tam Quan có sân nhỏ hình chữ nhật, kích thước 6,9m x 7,8m. tiếp đến là bình phong đắp hình long mã lưng có hà đồ nỗi trên mặt nước, mặt sau đề bốn chữ “Bách thế bất di” (Trăm đời không thay đổi). Ở hai bên là đôi câu đối nhắc đến lai lịch Đào Duy Từ: “Ngọc sơn chung tú Bắc/ Bồng lãnh hiển danh Nam”. Cách đều bình phong 2,6m về hai bên có hai cột trụ cao 4m, trên đỉnh đắp tượng hạc đứng chầu đối xứng, phía sau là sân lớn hình chữ nhật với kích thước 15,4m x 14m. qua sân lớn đến nhà thờ được thiết kế kiểu nhà mái lá, một kiểu kiến trúc truyền thống ở Bình Định. Khám thờ bên trong có bài vị của Đào Tá Hán , Nguyễn Thị Minh (thân phụ và thân mẫu của Đào Duy Từ), Đào Duy Từ và vợ. Trên bài vị Đào Duy Từ có dòng chữ “ô Thủy tổ khảo nội tán lộc khê hầu Đào Công, tặng khai quốc công thần, đặc tiến Vinh lộc đại phu, Đông các đại học sỹ, Thái sư, nhưng thủy Trung Lương, phong Hoàng Quốc Công thần chủ” Bài vị của vợ Đào Duy Từ viết “ôThủy tổ tỉ nội tán Lộc khê hầu Hoàng Quốc Công phu nhân, Trinh thục cao thị thần chủ”. Trong nhà thờ còn có đôi câu đối nhưng nay đã sứt mòn, mờ không đọc được. 

Di tích nhà thờ Đào Duy Từ tại thôn Cự Tài thuộc xã Hoài Phú, huyện Hoài Nhơn. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí và Đồng Khánh Dư Địa Chí đều chép đền thờ Hoàng Quốc Công Đào Duy Từ ở thôn Cự Tài, huyện Bồng Sơn (nay là Hoài Nhơn). Trong chiến tranh nhà thờ này đã bị sụp đổ. Năm 1978 dòng họ Đào xin kinh phí của tỉnh Nghĩa Bình để xây dựng lại đền thờ trên nền cũ hiện chỉ còn lại hai trụ cổng và tấm đại tự cũng đề “Quốc Công từ môn” (giống như nhà thờ ở thôn Ngọc Sơn, xã Hoài Thanh Tây) là dấu tích kiến trúc năm Tự Đức thứ 32 (1880) và lần trùng tu năm Khải Định thứ 1 (1861). Trong đền thờ khám thờ là bài vị Đào Duy Từ cũng ghi giống như bài vị bên nhà thờ thôn Ngọc Sơn. Ngoài ra, tại thôn Ngọc Sơn còn có lăng Đào Tá Hán. Truyền rằng khi đã làm quan ở Thuận Hóa, Đào Duy Từ cho đắp mộ phụ thân rồi tung tin rằng đã đưa hài cốt cha mẹ vào đây để phòng việc trả thù của họ Trịnh ở Đàng Ngoài. Lăng mộ hiện nằm trên một quả đồi rộng. Cũng tại Ngọc Sơn hiên có một ngôi chùa nhỏ, tương truyền là nơi đi tu của bà vợ cả họ Cao. 

Những di tích kể trên, theo đơn vị hành chính hiện nay, nằm ở các thôn, xã khác nhau (lăng mộ Đào Duy Từ tại thôn Phụng Du, xã Hoài Hảo, nhà thờ và lăng mộ Đào Tá Hán tại thôn Ngọc Sơn, xã Hoài Thanh Tây và nhà thờ ở thôn Cự Tài, xã Hoài Phú ) nhưng tất cả vốn đều thuộc vùng đất của trại Tùng Châu xưa. Đây là những xã thôn mà hiện nay con cháu Đào Duy Từ còn rất đông đảo, đặc biệt là ở thôn Cự Tài. 

Hàng năm vào ngày 17 tháng 10 (âm lịch) là ngày giỗ Đào Duy Từ, con cháu họ Đào tổ chức cúng tế rất long trọng. Theo quy ước, cứ vào dịp này con cháu dòng tộc đều nghỉ việc đồng áng trong ba ngày. Sau khi làm lễ thắp hương tại lăng mộ Đào Duy Từ (thôn Phụng Du) con cháu về họp mặt và dâng hương tại đền thờ cha mẹ và vợ chồng Đào Duy Từ ở thôn Ngọc Sơn rồi sau đó mới trở về tế lễ chính thức tại đền thờ Đào Duy Từ ở thôn Cự Tài. Ngoài ngày giỗ chính (17 tháng 10), hàng năm tại các di tích trên còn có 5 ngày lễ phụ vào dịp Đông chí, Chạp mả, Thanh minh, Trung thu và Tết Nguyên đán. Ngày giỗ Đào Duy Từ cũng là ngày con cháu phối hợp cúng tế thân phụ và thân mẫu cùng vợ của ông. Duy bà vợ cả còn có ngày riêng là 12 tháng 2 âm lịch tại chùa tu của bà ở thôn Tài lương. Giỗ bà hàng năm( gọi là tiểu chẩn) chỉ sửa cơm chay, cứ mười năm (gọi là trung chẩn) thì lễ vật có thêm đôi chim sống, một đôi gà sống cúng xong thả chim gà ra rồi con cháu thi nhau đuổi bắt, cứ 30 năm (đại chẩn) mới sửa cỗ mặn. 

Có đến tận nơi mảnh đất Tùng Châu xưa mới thấy hết dấu ấn và ảnh hưởng lớn lao của Đào Duy Từ đối với vùng đất này. Không chỉ có con cháu họ Đào nơi đây tự hào về vị tổ tiên của mình mà tất cả mọi người dân nơi đây đều tự hào về ông. Cuộc đời và sự nghiệp Đào Duy Từ đã trở thành niềm tự hào chung của dân Hoài Nhơn, của nhân dân Bình Định. Cuộc hành hương đưa ta trở về mảnh đất nơi xưa Đào Duy Từ thác làm kẻ chăn trâu cho phú ông không mấy khó khăn. Từ thị trấn Bồng Sơn ruổi theo Quốc lộ 1A khoảng 7 km tới cột cây số 1138 rồi rẽ hướng tây là sẽ đến các địa chỉ cần tìm. Cỏ trên mộ ông luôn ấm hơi người, của con cháu, của bà con nơi đây, của khách thập phương. Bởi cuộc đời đầy những tình tiết ly kỳ của ông, bởi tấm lòng của ông với vùng đất quê hương thứ hai này, và bởi sự nghiệp lẫy lừng của ông với chúa Nguyễn, với nhân dân Đàng Trong vẫn sẽ còn sống mãi với thời gian.” 

Đền thờ Đào Duy Từ ở làng Lạc Giao, Buôn Ma Thuột 

Theo Báo Bình Định http://www.baobinhdinh.com.vn/ Trần Xuân Toàn đã giới thiệu đền thờ Đào Duy Từ ở làng Lại Giao thành phố Buôn Mê Thuột : “Đình Lạc Giao phường Thống Nhất, thành phố Buôn Ma Thuột, được lập năm 1929, là ngôi đình làng đầu tiên của những người Việt (Kinh) từ đồng bằng lên đây lập nghiệp, thờ vị thành hoàng làng là Đào Duy Từ. 

Ngôi đình ban đầu làm bằng tranh tre, năm 1932, ngôi đình được xây dựng lại bằng gạch lợp ngói theo hình chữ Môn, gồm có nhà thờ Thần Hoàng và những người có công với nước, hai nhà tả hữu hai bên dùng làm nơi hội họp mỗi khi tế lễ, phía trước có cổng tam quan đi vào, sau cổng có bức bình phong có chạm khắc hổ phù, sau nữa là một lư hương lớn. Làng Lạc Giao hình thành bắt đầu từ những người bị tù lưu đày xa xứ, rồi những dân phiêu bạt từ các vùng đất miền Trung nghèo khó tìm nơi lập nghiệp sinh sống, rồi những công chức, thầy giáo, binh lính được bổ nhiệm lên vùng đất xa xôi Ban đầu chỉ dăm nóc nhà dọc theo con đường suối Ea Tam, xóm người Việt ấy được gọi là thôn Nam Bang. Họ làm rẫy dọc theo khu rừng già ven suối, bên cạnh một buôn của Ama Thuột. Năm 1924, họ gọi xóm người Việt di cư đến là Lạc Giao với ý nghĩa: Lạc là con Lạc cháu Hồng, Giao nghĩa là nơi bang giao Kinh – Thượng. Tên gọi Lạc Giao là lời nguyền giao ước an cư lạc nghiệp của đồng bào Kinh- Thượng, cùng chung lưng đấu cật xây dựng vùng đất mới này. 

Năm 1925, làng Lạc Giao được mở rộng bao trùm cả một khu vực rộng lớn ở ngay trung tâm Buôn Ma Thuột. Tài liệu của đình Lạc Giao ghi: ông Phan Hộ, người Quảng Nam, vào Ninh Hoà (Khánh Hoà) sinh sống. Thuở ấy, lên cao nguyên Dak Lak chưa có đường, ông Phan Hộ cùng một số trai tráng đi bằng voi, ngựa xuyên rừng vài tháng mới tới vùng M'Drak rồi đến Buôn Ma Thuột trao đổi hàng hoá với người Ê Đê, thấy người dân ở đây giàu lòng mến khách, đất đai màu mỡ lại dễ làm ăn, nên ông vận động nhiều gia đình lên đây sinh sống, khai phá đất hoang để lập làng. Nỗi nhớ thương quê nhà bản quán, anh em khôn nguôi trong lòng những người đi xa quê, làm ăn xứ lạ. Từ đó họ có nhu cầu gặp gỡ, trao đổi công việc làm ăn, nhất là lễ tết có nơi cúng kiếng ông bà tổ tiên, nhắc chuyện quê hương làng xóm. Họ đã góp tiền của công sức dựng nên ngôi đình trên để thoả nỗi ước mong đó. Đình Lạc Giao ra đời ghi dấu bước chân của người Việt trên mảnh đất cao nguyên, là nơi mọi người cầu mong sức khoẻ và làm ăn phát đạt, nơi thờ các vị tiên hiền và người có công với đất nước, nơi sinh hoạt trong những ngày lễ tết của cư dân Việt trên vùng đất mới. 

Năm 1932, vua Bảo Đại ra chiếu sắc phong cho thần hoàng của làng là Đào Duy Từ, khẳng định đây là đất của “Hoàng triều cương thổ”. Nhân vật được sắc phong Thần Hoàng là một danh nhân văn hoá, một tài năng lớn trong nhiều lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá … đặc biệt ông là người có công mở mang đất nước, xây dựng nên nhiều vùng đất mới. Hằng năm cứ đến ngày 27-10 âm lịch, nhân dân Buôn Ma Thuột lại tổ chức ngày tưởng niệm tại đình ...’’ 

Copy bài từ thầy Hoàng Kim 
(Sưu tầm tổng hợp, biên soạn)
http://blog.360.yahoo.com/rss-PkY01PA5dKccD9Dsho_NMlMcLZ4VHCMw