Hiển thị các bài đăng có nhãn Học tập. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Học tập. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 21 tháng 6, 2016

nấm bệnh cây trồng

1. Phương thức xâm nhập vào cây
Sclerotinia, Sclerotium và các nấm hoặc vi khuẩn gây héo-->Lây bệnh vào thân cây
Septoria, Colletotrichum -->Lây bệnh lên lá (trong điều kiện để ẩm)
Pythium, Phytophthora, Fusarium, Rhizoctonia -->Lây bệnh vào đất theo dạng hỗn hợp
Sclerotium, Rhizoctonia -->Lây bệnh vào đất theo dạng lớp mỏng
Héo vi khuẩn và Fusarium -->Dịch bào tử (có hoặc không gây vết thương cơ giới)
---------------
Các đặc tính của các tác nhân gây bệnh phổ biến tồn tại trong đất
1 -Tác nhân gây bệnh: Pythium speciesa; P. phanidermatuma; P. myriotiluma,P. spinosuma
-Bệnh: Chết cây con, thối rễ con, thối rễ
-Phổ k.chủ: Rộng
-Tồn tại: Bào tử trong đất
-Nhận xét: Du động bào tử lan truyền qua nước trong đất và nước mưa hoặc nước tưới
2 -Tác nhân gây bệnh: Phytophthora palmivora
-Bệnh: Nhiều bệnh ở rễ, thân, lá và quả của cây trồng lâu năm
-Phổ k.chủ: Rộng
-Tồn tại: Bào tử hậu, sợi nấm trong tàn dư cây bệnh và có thể cả bào tử trứng trong đất
-Nhận xét: Du động bào tử lan truyền qua nước trong đất và nước mưa hoặc nước tưới
3 -Tác nhân gây bệnh: Phytophthora capsicia
-Bệnh: Thối gốc (héo nhanh) hồ iêu, thối rễ ớt và các bệnh khác
-Phổ k.chủ: Rộng
-Tồn tại: Bào tử hậu, sợi nấm trong tàn dư cây bệnh trên ruộng và có thể cả bào tử trứng trong đất
-Nhận xét: Du động bào tử lan truyền qua nước trong đất và nước mưa hoặc nước tưới
4 -Tác nhân gây bệnh: Phytophthora nicotianaea
-Bệnh: Thối nõn dứa và các bệnh khác
-Phổ k.chủ: Rộng
-Tồn tại: Bào tử hậu, sợi nấm trong tàn dư cây bệnh và có thể cả bào tử trứng trong đất
-Nhận xét: Bào tử hậu trong đất, du động bào tử lan truyền qua nước trong đất và nước mưa hoặc nước tưới
5 -Tác nhân gây bệnh: Fusarium oxysporum,f. sp. lycopersicia, f. sp. pisia, f. sp. cubensea
-Bệnh: Héo Fusarium
-Phổ k.chủ: Cà chua,Đậu hà lan, chuối
-Tồn tại: Bào tử hậu trong đất, xâm nhiễm cả rễ cây không phải là ký chủ
-Nhận xét: Mạch dẫn hóa nâu
6 -Tác nhân gây bệnh: Sclerotinia sclerotiorum
-Bệnh: Thối thân và quả
-Phổ k.chủ: Rộng
-Tồn tại: Hạch nấm lớn, màu đen trong đất
-Nhận xét: Hạch nấm là dấu hiệu chẩn đoán trên đồng ruộng
7 -Tác nhân gây bệnh: Sclerotium rolfsii
-Bệnh: Thối gốc thân
-Phổ k.chủ: Rộng
-Tồn tại: Hạch nấm tròn, nhỏ, màu nâu trong đất
-Nhận xét: Hạch nấm là dấu hiệu chẩn đoán trên đồng ruộng
8 -Tác nhân gây bệnh: Rhizoctonia sp.
-Bệnh: Chết cây con, thối rễ và thân
-Phổ k.chủ: Rộng
-Tồn tại: Hạch nấm hoặc sợi nấm điển hình trên tàn dư cây bệnh trong đất
-Nhận xét: Hạch nấm là dấu hiệu chẩn đoán cho một số loài trên đồng ruộng; sợi nấm phân nhánh vuông góc trong mẫu cấy trên môi trường
9 -Tác nhân gây bệnh: Sclerotium rolfsii
-Bệnh: Thối gốc thân
-Phổ k.chủ: Rộng
-Tồn tại: Hạch nấm tròn, nhỏ, màu nâu trong đất
-Nhận xét: Hạch nấm là dấu hiệu chẩn đoán trên đồng ruộng
10 -Tác nhân gây bệnh: Verticillium albo-Atruma, Verticillium dahliaea
-Bệnh: Héo Verticillium
-Phổ k.chủ: Rộng
-Tồn tại: Sợi nấm trong tàn dư cây bệnh hoặc Hạch nấm cực nhỏ trong đất, sợi nấm trong tàn dư cây bệnh (Verticillium dahliaea)
-Nhận xét: Mạch dẫn hóa nâu
11 -Tác nhân gây bệnh: Ralstonia solanacearuma
-Bệnh: Héo vi khuẩn
-Phổ k.chủ: Rộng
-Tồn tại: Vi khuẩn trong đất, tàn dư cây bệnh và vật liệu nhân giống
-Nhận xét: Thân hóa nâu và dịch khuẩn là những đặc tính chẩn đoán trên đồng ruộng
12 -Tác nhân gây bệnh: Meloidogyne
-Bệnh: Tuyến trùng nốt sưng
-Phổ k.chủ: rộng
-Tồn tại: Tuyến trùng ngủ nghỉ trong đất
-Nhận xét: Tuyến trùng cái sống trong nốt sưng rễ - một đặc tính chẩn đoán
13 -Tác nhân gây bệnh: Tuyến trùng gây loét rễ
-Bệnh: Gây vết bệnh trên rễ và làm cây còi cọc
-Phổ k.chủ: Rộng
-Tồn tại: Tuyến trùng ngủ nghỉ trong đất
-Nhận xét: Có thể nhìn thấy các vết loét trên rễ bằng kính lúp cầm tay
14 -Tác nhân gây bệnh: Plasmodiophora brassicae
-Bệnh: Sưng rễ cây thuộc họ thập tự
-Phổ k.chủ: Brassica Và Raphanus
-Tồn tại: Bào tử ở dạng bảo tồn trong đất
-Nhận xét: Các triệu chứng sưng rễ có thể chẩn đoán được trên đồng ruộng; thêm vôi vào đất để phòng trừ

Cách lan truyền của Nấm

Phương tiện lan truyền: bào tử, sợi nấm, hạch nấm
Lan truyền chủ động:
  - bào tử túi từ quả thể phóng vào không khí
  - bào tử động tự di chuyển trong nước.
Lan truyền thụ động: mưa, nước tưới, gió, côn trùng, động vật, con người

Tồn tại: trên hạt giống, trong đất, xác bả cây trồng, cỏ dại, ký chủ phụ, ký chủ trung gian



Phân loại Nấm













Các triệu chứng bệnh cây



Các yếu tố dinh dưỡng cây trồng






Vài điều về nuôi cấy mô in vitro

Dinh dưỡng của môi trường in vitro




Vài điều về nuôi cấy mô in vitro

Dinh dưỡng của môi trường in vitro




Cơ sở khoa học và phương pháp chiết cành

Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2016

Phương pháp cải tạo đất phèn



Trong đất phèn có chứa rất nhiều lưu huỳnh ở các dạng khác nhau, trong đó có những dạng gây độc cho cây trồng như sunfua, sunfit, sunfat... Như vậy trên đất phèn thì không nên bón những loại phân có chứa lưu huỳnh như đạm sunfat hay phân 16 – 16 – 8 – 13S. Việc bón lân, ngoài việc cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng còn có tác dụng hạ độc phèn rất hiệu quả. Có thể sử dụng super lân hoặc kết hợp phun phân bón lá có chứa lân.



Cải tạo đất phèn bằng phương pháp bón lót


Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy bón lót phân lân nung chảy, hiệu quả luôn cao hơn so với không bón lót phân lân khi cải tạo đất phèn. Sau khi lúa đã ra rễ trắng thì có thể bón các loại phân khác. Phân lân sử dụng riêng và bón lót sớm lúc làm đất lần cuối sẽ hiệu quả hơn. Nếu trộn phân vào lúa giống đã lên mộng thì lúa sẽ bị gãy mộng. Việc bón phân lân sớm còn có tác dụng hạn chế được sự cắn phá của ốc bươu vàng mà không cần dùng thuốc hóa học.



Có thể làm cho các độc chất trở nên bất động không gây hại cho cây trồng bằng cách bón vôi để giảm nhanh độ chua, nâng pH đất lên nhưng thường rất tốn tiền. Việc bón vôi chủ yếu là cung cấp canxi cho cây trồng và vôi sẽ kết hợp với các độc chất sắt, nhôm làm cho chúng trở nên bất động không gây hại được nữa. Vấn đề khá quan trọng là bón phân hữu cơ hoai mục. Phân hữu cơ cũng có tác dụng như chất lân là khi bón vào ruộng sẽ kết hợp với các độc chất phèn làm cho chúng không gây độc. Như vậy để ít tốn kém thì bà con có thể dùng phân hữu cơ (rơm, rác…) đã ủ cho hoai mục bón cho đất phèn.

Theo Tiến sĩ Mai Thành Phụng, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, để khai thác đất phèn trồng lúa đạt hiệu quả, cần phải kết hợp nhiều biện pháp như:

- Thiết kế đồng ruộng thuận lợi cho cải tạo đất phèn
- Hệ thống kinh mương chắc chắn, dùng nước ém hay xả phèn đúng lúc
- Tăng cường sử dụng phân lân
- Canh tác các giống lúa chống chịu phèn.


Việc đánh rãnh trên ruộng lúa để xả phèn và kết hợp bón lót lân là biện pháp rất đúng và rất hiệu quả. Để có thể xả phèn tốt thì hệ thống kinh mương cần được thiết kế như sau: Một mương xả phèn với độ sâu khoảng 1 – 1,2m, rộng 1,5 – 2m và nối với kinh nguồn. Mương này còn có tác dụng giúp cho việc vận chuyển phân, giống, sản phẩm sau thu hoạch rất thuận lợi. Trong mỗi ruộng nên làm những mương giáp vòng quanh ruộng để xả phèn, bề rộng và sâu chỉ cần khoảng 50 – 70cm. Đối với những ruộng lớn thì nên xẻ thêm các mương xương cá trên ruộng nối với các mương giáp vòng để xả phèn tốt hơn. Theo kinh nghiệm một số nông dân thì sau khi trục đất lần cuối, lấy khoảng 10 – 15kg đất bỏ vào 1 cái bao nhỏ cột vào sau máy cày và đi theo từng đường sẽ tạo thành những rãnh xương cá. Nếu thực hiện được hệ thống kinh mương như trên thì khả năng đất thoát phèn sẽ rất tốt.

Khi trồng lúa thì nhất thiết là phải có nước, đặc biệt là trên đất phèn cần có nước để rửa phèn. Nếu không có nước từ các kinh mương thì cũng phải tận dụng nước mưa nhưng năng suất lúa sẽ không cao. Trường hợp không có nước để rửa phèn, thì đầu mùa mưa nên đóng các cống bọng, nện dẻ bờ bao, cố gắng giữ nước lại trên ruộng. Khi giữ nước 1 – 2 ngày thì có thể trục qua một lần rồi xả nước ra để xả phèn.

Triệu chứng lúa bị ngộ độc phèn sắt, khi ruộng lúa đang xanh thì mép lá sẽ chuyển sang màu tím, trên lá bắt đầu xuất hiện những đốm nâu chấm chấm rất nhỏ. Khi lá bị nặng sẽ chuyển sang màu vàng và có thể chết. Cần phân biệt bệnh đốm nâu với ngộ độc phèn sắt. Bệnh đốm nâu thì trên lá sẽ xuất hiện những đốm màu nâu hình bầu dục nhưng hai đầu tròn và thường xuất hiện ở chỗ đất gò trên ruộng hay ở những ruộng thiếu dinh dưỡng. Có thể nhổ cây lúa lên để xem bộ rễ, nếu nhiễm phèn sắt nhẹ, thì rễ lúa sẽ có màu vàng hơi trắng. Còn nặng thì sẽ có màu vàng nâu. Nếu nặng nữa thì toàn bộ rễ sẽ chuyển sang màu đen và mềm nhũn, rễ ngắn và các lông hút trên rễ bị rụng hết. Khi đã xác định được ruộng bị xì phèn thì nên có những biện pháp cải tạo đất phèn như xử lý như xả và thay nước, bón phân lân, vôi.


Cải tạo đất phèn


Cách làm đất để ruộng không bị xì phèn.

Làm đất thì bao gồm cày, trục hay bừa và san bằng mặt ruộng. Đối với đất phèn nhẹ trung bình thì có thể cày sâu khoảng 20 – 25cm, sau một thời gian sẽ làm cho tầng canh tác đất dày lên và tăng khả năng khoáng hóa chất hữu cơ, giảm được độc sắt. Đối với đất phèn nặng, có tầng phèn tiềm tàng gần tầng đất mặt thì không được cày sâu vì nếu cày sâu thì vô tình sẽ lật cả tầng phèn lên trên và gây độc cho lúa.

Cày ải trên đất phèn thì cần chú ý: Đối với đất phèn nhẹ và trung bình thì có thể cày ải vì cày ải cũng có tác dụng cắt đứt được các mao dẫn phèn từ dưới lên trên và tạo điều kiện cho sắt hóa trị 2 (Fe 2+) là loại sắt gây độc cho cây lúa bị oxyt hóa chuyển sang sắt hóa trị 3 (Fe 3+) có màu vàng sậm không còn gây độc nữa. Trên đất phèn nặng nếu cày ải sẽ tạo điều kiện cho không khí chui xuống bên dưới tiếp xúc với tầng phèn và oxy hóa chất sinh phèn tạo thành chất độc gây hại cây lúa.

Đối với đất phèn nhẹ và trung bình thì có thể làm đất nhuyễn để tạo điều kiện cho cây lúa sinh trưởng tốt, nhưng trên đất phèn nặng thì cũng không nên làm đất nhuyễn quá vì nó sẽ tạo thành những mao dẫn giúp chất độc từ dưới dẫn lên trên và acid nhôm trong đất phèn sẽ có cơ hội giải phóng ra các độc chất nhôm. Mặt khác, khi làm đất nhuyễn các hạt đất kết dính lại với nhau thì khả năng thoát phèn, rửa phèn sẽ khó hơn.

Việc làm mặt bằng trên đất phèn là rất quan trọng, bởi vì sản xuất lúa thành công trên đất phèn là nhất thiết phải dùng nước để ém phèn. Như vậy trên bề mặt ruộng nên cố gắng giữ một lớp nước khoảng 10 – 15cm và để làm tốt điều này thì mặt bằng ruộng phải bằng phẳng, càng bằng phẳng càng tốt. Nếu ruộng chênh nhau quá khoảng 15 – 20cm thì nên đắp bờ phân ruộng ra chứ không nên đào đất để san bằng thì sẽ lấy hết lớp đất mặt ở những chỗ gò đem xuống chỗ trũng và phèn bên dưới chỗ đất gò sẽ xì lên gây hại.

Trong quá trình quản lý và cải tạo đất phèn thì trước hết là phải ngăn chặn không cho các vật liệu sinh phèn bên dưới có cơ hội tạo thành độc chất gây hại. Do đó việc dùng nước ém phèn là rất quan trọng mà căn cơ là hệ thống thủy lợi phải luôn được đảm bảo. Phải biết tầng sinh phèn nằm ở độ sâu bao nhiêu, nếu thấy ở tầng đó có trị số pH khoảng 3,5 thì phải ém phèn ngay ở độ sâu đó hoặc cao hơn một chút bằng cách luôn giữ mực nước trong các kinh mương ngang đó hoặc cao hơn. Như vậy, ngoài việc xẻ những kinh mương nội đồng trong ruộng lúa, thì nên xới xáo trên bề mặt ruộng để phèn dễ rửa trôi hơn. Lưu ý khi rửa phèn, nguồn nước phèn chảy ra từ các ruộng này sẽ rất chua và gây độc cho các cây trồng khác trong vùng nên cần phải có kế hoạch luân phiên cải tạo đất bằng cách rửa phèn.

PHÂN LÂN – MỘT VÀI ĐIỀU CẦN BIẾT
Bà con mình thường làm thế này.
- Muốn phục hồi cây: BÓN LÂN.
- Muốn ra rễ: BÓN LÂN.
- Muốn chịu hạn: BÓN LÂN.
- Kích thích ra hoa: BÓN LÂN.
- Muốn tăng pH: BÓN LÂN.
- Ủ phân : BÓN LÂN.
- Lót trồng mới : BÓN LÂN….
Cuối cùng là đất dư lân nhiề
u hơn là thiếu. Điều này tai hại vô cùng. Ví dụ: Những kết quả nghiên cứu cho thấy rằng sau nhiều năm bón phân lân dễ tiêu (supe lân, DAP) một số vi lượng như kẽm, đồng bị chuyển thành dạng cây không sử dụng được.
Lân là yếu tố phân bón có thể xuất hiện nhu cầu ngay khi đã bón đủ đạm. 
Đất mới khai hoang trừ một số trường hợp đặc biệt hiệu quả phân lân không rõ. Sau nhiều năm trồng trọt, không bón phân lân, lân trong đất nghèo dần. Năng suất cây trồng càng cao thì dự trữ lân trong đất càng tỏ ra không đủ để cung cấp cho cây. Sản phẩm lấy đi càng nhiều, lân trong đất càng nghèo cạn kiệt. Nhu cầu bón lân xuất hiện dần theo tình hình thâm canh phát triển.
Có khi lân là yếu tố hạn chế năng suất chứ không phải là đạm. Bón đủ lân mới có thể khai thác được dự trữ đạm trong đất.
Phân lân nên chú ý sử dụng để bón lót vì hai lý do:
- Lân rất cần cho sự phát triển của rễ và sự phát triển mầm cây ở giai đoạn cây non.
- Phân lân sau khi bón vào đất cho dù ở dạng hòa tan hay không hòa tan đều ít di chuyển, ít bị rửa trôi và mất đi. Cho nên nếu không phải là tất cả thì cũng là phần lớn lượng lân nên dùng bón lót. Mặc dầu lân rất cần cho sự hình thành sản phẩm thu hoạch, hạt và củ và ảnh hưởng đến phẩm chất sản phẩm thu hoạch nhưng khó có cách đưa lân tiếp cận đến rễ non vào đúng các giai đoạn cây cần bằng cách bón thúc. Lân khuếch tán chậm và không xa. Nếu cuốc xới để đưa lân vào tiếp cận với rễ sẽ làm đứt rễ rụng hoa quả. Để giải quyết nhu cầu lân vào các thời kì này, cách thường dùng là phun lân lên lá cây cùng với các chất vi lượng và điều hòa sinh trưởng.
Có 2 loại lân bà con thường sử dụng:
PHÂN LÂN SUPE
Là loại bột mịn màu trắng, vàng xám hoặc màu xám thiếc. Một số trường hợp supe lân được sản xuất dưới dạng viên. Trong supe lân có 16 – 20% lân nguyên chất. Ngoài ra, trong phân này có chứa một lượng lớn thạch cao. Trong phân còn chứa một lượng khá lớn axit, vì vậy phân có phản ứng chua. Phân dễ hoà tan trong nước cho nên cây dễ sử dụng. 
Phân thường phát huy hiệu quả nhanh, ít bị rửa trôi. Supe lân có thể dùng để bón lót hoặc bón thúc đều được. Phân này có thể sử dụng để bón ở các loại đất trung tính, đất kiềm, đất chua đều được. Tuy nhiên, ở các loại đất chua nên bón vôi khử chua trước khi bón supe lân. Supe lân có thể dùng để ủ với phân chuồng. 
Nếu supe lân quá chua, cần trung hoà bớt độ chua trước khi sử dụng. Có thể dùng phôtphat nội địa hoặc apatit. Nếu đất chua nhiều dùng 15 – 20% apatit để trung hoà, đất chua ít dùng 10 – 15. Supe lân ít hút ẩm, nhưng nếu cất giữ không cẩn thận phân có thể bị nhão và vón thành từng cục. Phân có tính axit nên dễ làm hỏng bao bì và dụng cụ đong đựng bằng sắt.
Như chúng ta đã biết phân lân supe khi bón sẽ phân ly ra H+ gây chua đất nên không khuyến cáo bón cho đất chua. Bà con có 1 thói quen là trộn chung với vôi. Điều này có thể làm giảm hiệu quả (do gốc PO4 trong phân lân tồn dư) và giảm hiệu lực phân lân (Ca2+ + PO4 3- = Ca3(PO4)2). Bà con nếu trộn chung thì tỉ lệ lân supe tối đa là 10% và nếu dc nên bón vôi trước 1 thời gian.
Nên bón cho đất kiềm, đất  khô cằn, hạn hán sẽ tốt hơn.
Do lân trong supe lân dễ hòa tan, khi bón vào đất dễ bị các nhân tố trong đất chuyển thành dạng cây khó sử dụng. 
Hai mặt mạnh của supe lân là:
- Dễ hòa tan, hiệu quả nhanh hơn các loại phân lân khác.
- Có chứa S. Mặt mạnh thứ hai này gần đây mới bắt đầu nhận thức hết vì đa số đất Tây Nguyên thiếu yếu tố này.
PHÂN LÂN NUNG CHẢY
Phân lân nung chảy còn có tên gọi khác: phân lân thủy tinh; phân lân can-xi ma-giê; Fused Calcium Magnesium Phosphate (FMP), Calcium Magnesium Phosphate (CMP).Phân lân nung chảy được sản xuất bằng cách nung chảy lỏng quặng Apatit (hoặc quặng phosphorit) và một số phụ gia sau đó làm lạnh nhanh bằng nước.
Tính chất: phân lân nung chảy có màu ghi hoặc xám,rất ít tan trong nước nhưng tan đến 98% trong môi trường đất và dịch của rễ cây. Phân lân nung chảy có tính kiềm (pH=8)nên có tác dụng khử chua. Phân lân nung chảy có nhiều thành phần dinh dưỡng có ích cho cây trồng: P2O5: 13-21%; MgO:10-20%; Cao:20-35%; SiO2:20-30%...
Lân nung chảy có phản ứng kiềm, cho nên không nên trộn lẫn với phân đạm vì dễ làm cho đạm bị mất. Phân này không tan trong nước, nhưng tan được trong axit yếu. Cây sử dụng dễ dàng. Phân có thể sử dụng để bón lót hoặc bón thúc đều tốt. Lân nung chảy phát huy hiệu lực tốt ở các vùng đất chua. Phân sử dụng có hiệu quả trên các vùng đất cát nghèo, đất bạc màu vì phân chứa nhiều thành phần, có các nguyên tố vi lượng và một ít kali. Lân nung chảy ít hút ẩm, luôn ở trong trạng thái tơi rời và không làm hỏng dụng cụ đong đựng.
Phân lân nung chảy dùng nhiệt vật lý lò cao không dùng phương pháp hoá học không tạo ra phản ứng nên vẫn được coi là phân khoáng có nguồn gốc tự nhiên. Không hoà tan trong nước, tan trong axit yếu do rễ tiết ra nên phù hợp cho canh tác tại đất chua phèn, trũng, ngập nước, dốc. khi dùng loại phân này không nên hoà nước tưới, khi dùng cần vùi vào đất.
Hiệu suất phân lân 25-30% nguyên nhân chủ yếu do keo đất giữ lại. Ưu điểm chính chung của các loại phân lân nung chảy là:
- Có khả năng khử chua cải tạo đất chua, đất phèn.
- Lân trong phân ở dạng ít hòa tan nên hiệu quả chậm hơn supe lân một ít nhưng hiệu quả bền hơn vì lân không bị chuyển thành dạng cây khó sử dụng. Các loại đất có khả năng hấp thụ và giữ chặt lân cao như đất phù sa nặng chua, đất phèn, đất đồi laterit chua, đất phù sa trũng và lầy thụt hiệu quả lân nung chảy có trội hơn lân supe.
Mặt yếu của loại phân này là hiệu quả hơi chậm đặc biệt là ở vùng đất trung tính kiềm và quá nghèo lân, trong thời gian ngắn ban đầu cây sẽ không được cung cấp đủ lân.

Nguy hại của thuốc BVTV






NÔNG DÂN SAU KHI PHUN THUỐC, ĐỂ LẠI VỎ THUỐC TẠI RUỘNG LUÔN.





Thứ Tư, 15 tháng 6, 2016

Chu trình chuyển hóa Đạm trong đất

Video này hay quá, mình có thời gian sẽ dịch sau :



- Option 1: Nitrogen transformations when applying amonium nitrate

- 1. Application of fertilizers, containing mineral nitrogen as ammonium and nitrate. Organic fertilizers contain mostly complex forms of N and ammonium
- 2. Uptake of nitrate is rapid due to the high particle mobility. Most plants therefore prefer nitrate over ammonium.
- 3. Uptake of ammonium is slower than that of nitrate. Ammonium is bound to clay particles in the soil and roots have to reach it. Most of the ammonium is therefore nitrified before it is taken-up by plants.
- 4. Nitrification by soil bacteria converts ammonium into nitrate in between a few days and a few weeks. Nitrous oxide and nitric oxide are lost to the atmosphere during the process
1:05
5. Denitrification is favoured by lack of oxygen (water logging). Soil bacteria convert nitrate and nitrite into gaseous nitrous oxide, nitric oxide and nitrogen. These are lost to the atmosphere
6. Immobilization transforms mineral nitrogen into soil organic matter. Activity of soil microbbes is mainly stimulated by ammonium. Immobilized nitrogen is not immediately available for plant uptake, but needs to be mineralized first.
Mineralization of soil organic matter  (and manure) releases ammonium into the soil.
7. Ammonia volatilization ocurs when ammonium is converted to ammonia and lost to the atmosphere. A high soil pH level and temperature favour conversion of ammonium to ammonia. If conversion takes place at the soil surface, losses are highest
8. Leaching of nitrate ocurs mainly during winter and fallow periods when percolating rainfall washes resdual and mineralized nitrates below the root zone. Accurate fertilization increases N use efficiency and reduces the risk of leadching during the growth period and afterwards.
option II

Nitrogen transformations when applying Urea

1. Application of fertilizers, containing mineral nitrogen as urea. Organic fertilizers contain mostly complex forms of N and ammonium. CO(NH2)2
2. Hydrolysis of urea by soil enzymes converts urea into ammonium and CO2 gas. Depending on temperature, hydrolysis takes a day to a week. The soil pH around the urea granules strongly increases during this process, favouring ammonia volatilization
3. Ammonia volatilization occurs when ammonium is converted to ammonia and lost to the atmosphere. A high soil pH level and temperature favour conversion of ammonium to ammonia. If conversion takes place at the soil surface, losses are highest. These conditions are met when urea is spread and not immediately incorporated.
4. Nitrification, by soil bacteria converts ammonium into nitrate in between a few days and a few weeks. Nitrous oxide and nitric oxide are lost the atmosphere during the process.
5. Uptake of nitrate, is rapid due to high particle mobility. Most plants therefore prefer nitrate over ammonium.
6. Uptake of ammonium is slower than that of nitrate. Ammonium is bound to clay particles in the soil and roots have to reach it. Most of the ammonium is therefore nitrified before it is taken-up by plants.
7. Denitrification is favoured by lack of oxygen(water logging). Soil bacteria convert nitrate and nitrite into gaseous nitrous oxide, nitric oxide and nitrogen. These are lost to the atmosphere.
8. Immobilization transforms mineral nitrogen into soil organic matter. Activity of soil microbbes is mainly stimulated by ammonium.
Immobilized nitrogen is not immediately available for plant uptake, but needs to be mineralized first.
Mineralization of soil organic matter  (and manure) releases ammonium into the soil.
9. Leaching of nitrate ocurs mainly during winter and fallow periods when percolating rainfall washes resdual and mineralized nitrates below the root zone. Accurate fertilization increases N use efficiency and reduces the risk of leadching during the growth period and afterwards.

Conclusion

Ammonium Nitrate is taken-up directly by plants while urea first needs to be converted. Amonium Nitrate therefore offers a higher nitrogen use efficiency than urea. Ammonium Nitrate thus reduces losses and environmental impact


- Tên đoạn Video : Chu trình biến đổi phân Đạm trong đất
- Giới thiệu : Khi phân đạn được bón vào trong đất rồi, thì phải trải qua một giai đoạn chuyển đổi nguồn phân này trước khi bắt đầu "phục vụ" cho bộ máy của thực vật. Các cái hình động sau đây sẽ giải thích cho bạn thấy chu trình của phân đạm sau khi vào đất như thế nào, và sau đó là sự khác biệt của phân amonium nitrate và phân urea.
Phần 1: Sự chuyển đổi phân đạm khi bón amoni nitrat
1, Tác dụng cho các loại phân bón có chứa khoáng amoni và nitrat. Với phân bón hữu cơ thì N ở dạng khá là phức tạp ở Nitrat và amoni.
2. Sự hấp thụ Đạm Nitrat (No3-) khá nhanh chóng vì hạt di chuyển khá nhanh trong đất. Phần lớn cây trồng thích hấp thụ Đạm Nitrat (No3-) hơn là Đạm Amoni (NH4+)
3. Sự hấp thu của Đạm Amoni(NH4+) là chậm hơn so với Đạm Nitrat (N03-) bởi vì để có thể chuyển đến rễ cây thì Đạm Amoni phải chịu sự "ràng buộc" của các hạt sét trong đất - khó di chuyển vào dung dịch đất. Vì thế, hầu hết các Đạm Amoni đều được Nitrat hóa(nitrified) trước khi nó được vào rễ cây.
4. Nitrat hóa được thực hiện bởi cái VSV có sẵn trong đất và chuyển thành Nitrat N03 trong một vài ngày hoặc vài tuần(tùy điều kiện VSV và yếu tố trong đất). Trong quá trình đó thì Nito oxit(NO) và Oxit Nitric(N02) được thoát vào khí quyển(bay khỏi đất) với dạng thể khí.
NH4+ ===>> N03 (ở lại) + N02 + NO (bay lên)

5. Phản nitrat hóa (Denitrification) được thực hiện trong điều kiện thiếu oxy (úng nước). Vi khuẩn trong đất chuyển hóa nitrat(No3) và nitric(N02) thành khí nitrous oxide(N2O), nitric oxide(N0) và nitrogen(N2). Tất cả các khí này bị mất đi và thoát vào khí quyển.
N03 ==>> No2===> N20 + N0 + N2
6. Sự cố định khoáng nitrogen(N03) thành chất hữu cơ trong đất.
Hoạt động của vi sinh vật trong đất là chuyển hóa N2 thành NH4+, tuy rằng sự cố định của VSV này là không được cây hấp thu trực tiếp, nhưng nó cần cho hoạt động đến khoáng đầu tiên.
N03 ===>>> Soil organic matter(chất hữu cơ trong đất) <===> NH4
N2 + 16 ATP +2H+ à 2NH4++ 16 ADP + H2
Sự khoáng hóa của chất hữu cơ trong đất (và phân bón) có thể chuyển hóa qua lại với Đạm amoni (NH4+) trong đất.
7. Sự bay hơi amoni(Nh4) xảy ra khi amoni được chuyển thành amoniac và thoát vào khí quyển. Mức độ pH cao và nhiệt độ tăng rất có lợi cho sự chuyển hóa amoniac vào khí quyển. Sự chuyển đổi này thường diễn ra ở bế mặt đất là cao nhất.
8. Sự rò rỉ nitrat (N03) xảy ra chủ yếu trong mùa mưa(hay mùa đông) và thời gian đất bỏ hoang khi sự thấm mưa và rửa nitrat xuống sâu trong tầng đất. Bón đúng lượng Nitrat giúp cho tăng hiệu quả sự dụng N và làm giảm nguy cơ rửa trôi trong thời gian sử dụng sau đó.
2:24
9.